Từ những trăn trở mở cửa viễn thông
Hiện nay, có thể nói chính sách mở cửa thị trường viễn thông của Việt Nam đã thành công. Ông Mai Liêm Trực, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu Điện, trả lời báo chí rằng những tư duy đầu tiên về mở cửa viễn thông được hình thành từ khoảng 1991-1992, khi TCBĐ mở rộng hợp tác song phương với nước ngoài và tham gia tích cực vào Tổ chức Viễn thông Quốc tế (ITU), nhất là từ 1994 khi Việt Nam được bầu vào Hội đồng điều hành của ITU. Thời kỳ này, nhiều nước cũng đang tìm cách chuyển độc quyền doanh nghiệp viễn thông sang cạnh tranh, song mỗi nước làm một cách, quá trình cũng rất khó khăn, thông thường phải mất khoảng 10 năm mới chuyển được sang thị trường thực sự có cạnh tranh.
Bên cạnh đó, lợi ích nhóm với các công ty độc quyền viễn thông cũng cản trở quá trình chuyển từ độc quyền sang cạnh tranh ở nhiều nước. Ở Việt Nam, viễn thông được coi là lĩnh vực rất nhạy cảm, có nhiều lo ngại kể cả ở cấp cao về việc đảm bảo an ninh quốc phòng khi mở ra cạnh tranh.
Mặt khác, Tập đoàn BC-VT Việt Nam (VNPT) tách ra khỏi TCBĐ từ 1990 cũng đang thực hiện chiến lược số hóa, tăng tốc thành công nên nhiều ý kiến muốn tiếp tục duy trì độc quyền. Cuối năm 1995, Thủ tướng Võ Văn Kiệt đồng ý về nguyên tắc cho Công ty Điện tử - Thiết bị thông tin (tiền thân của Viettel) và Công ty cổ phần BCVT Sài Gòn (SPT) được tham gia kinh doanh dịch vụ BC-VT. Tuy nhiên, cả hai đều còn quá nhỏ, vốn chỉ vài tỷ đồng với mấy chục CBCNV chưa bao giờ kinh doanh viễn thông. TCBĐ cũng lúng túng không biết cho mở dịch vụ gì trước: nội hạt, đường dài trong nước hay quốc tế, cố định hay di động?
Năm 1997, khi Chính phủ mở Internet, TCBĐ quyết định cấp phép cho 4 doanh nghiệp một lúc, áp dụng cạnh tranh ngay từ đầu; đồng thời với việc tham gia mạng Internet toàn cầu, Việt Nam cũng bắt đầu đàm phán Hiệp định thương mại Việt - Mỹ và WTO. Từ kinh nghiệm thành công trong việc mở cửa thị trường Internet, TCBĐ quyết tâm tìm cách mở cửa thị trường viễn thông, chuyển từ độc quyền sang thị trường cạnh tranh. Hơn nữa, dư luận xã hội cũng bắt đầu than phiền giá cước viễn thông cao, thái độ phục vụ của nhân viên bưu điện nhiều nơi tỏ ra cửa quyền.
Đến năm 1999, Viettel và SPT đều quá nhỏ, Viettel với số vốn 2,3 tỷ đồng và trên 100 cán bộ làm việc trong một dãy nhà cấp 4, SPT có vài chục tỷ đồng nhờ buôn bán thiết bị và Internet. Nhận thấy các doanh nghiệp mới rất khó khăn, TCBĐ quyết định cho mở cạnh tranh dịch vụ điện thoại đường dài trong nước và quốc tế bằng công nghệ VoIP (Voice Over Internet Protocol) với đầu tư ít và doanh thu tăng nhanh. TCBĐ thông báo cho các doanh nghiệp (kể cả VNPT) xây dựng và trình đề án thử nghiệm làm VoIP. TCBĐ chọn Viettel không phải vì Viettel là một doanh nghiệp quân đội, mà bởi đây là doanh nghiệp trình đề án trước tiên, trình bày rất rõ ràng và quyết tâm cao. Công tác quản lý Nhà nước phải công khai, minh bạch và công bằng. Đương nhiên nước nào khi mở cửa thị trường cũng có chính sách ưu tiên cho các doanh nghiệp mới tham gia thị trường. Vì vậy, ngày 3/2/2000, TCBĐ cấp phép cho Viettel là đơn vị duy nhất làm thí điểm VoIP và đến ngày 15/10/2000, Viettel chính thức mở dịch vụ 178 kinh doanh điện thoại đường dài giữa Hà Nội - TP.HCM và sau đó đi các tỉnh. Khi giao cho Viettel đi tiên phong, TCBĐ cũng yên tâm hơn về vấn đề an ninh quốc phòng, Viettel lúc đó số lượng cán bộ ít nhưng có những người lãnh đạo rất quyết tâm, có kinh nghiệm từ Bộ Tư lệnh Thông tin liên lạc chuyển sang; ý chí và kỷ luật quân đội cũng là một nhân tố quyết định thành công.
Sau gần 8 tháng Viettel đưa dịch vụ điện thoại đường dài 178 vào khai thác, các vấn đề lớn về công nghệ, kết nối, giá cước, phân chia cước giữa các doanh nghiệp, ghi và thu cước, xử lý khiếu nại của khách hàng… đã được giải quyết. Dịch vụ VoIP 178 được người dân sử dụng nhiều, lưu lượng tăng nhanh. Đến 7/2001, TCBĐ đã cấp phép chính thức cho Viettel, VNPT, SPT và một số doanh nghiệp mới khai thác điện thoại đường dài trong nước và quốc tế bằng công nghệ VoIP.
Đến thành công rực rỡ của một thương hiệu
Tôi vẫn nhớ lời một doanh nhân trẻ háo hức chờ đợi đến màn “khoe” thương hiệu của Viettel để học hỏi kinh nghiệm. Anh nói: “Có cái để mà “khoe” như vậy cũng khó lắm, nhất là trong thời gian khó khăn này”.
Ông Ralf Matthaes, Tổng giám đốc TNS Việt Nam, chuyên nghiên cứu thị trường, cho rằng, thành công của nhà cung cấp dịch vụ viễn thông Viettel tại VN là một trong những thành công điển hình. Kể từ ngày khai sinh năm 2001 với 120 nhân viên và số vốn 200 nghìn USD, sau 8 năm, công ty này đã lớn mạnh thành một Tổng Công ty có 14 nghìn nhân viên và doanh thu 2 tỷ USD.
Viettel hiện nằm trong top 100 thương hiệu mạng di động lớn nhất thế giới. Trong khu vực Viettel vượt qua SingTel, StarHub (Singapore), DiGi (Malaysia), Indosat (Indonesia).
Theo danh sách được đăng trên telecoms.com, Viettel là nhãn hiệu di động duy nhất của Việt Nam có trong danh sách với giá trị thương hiệu là 536 triệu USD. Tổng trị giá nhãn hiệu của 100 mạng di động là 318 tỷ USD.
Về giá trị thương hiệu, Viettel xếp thứ 83 nhưng về doanh thu, thứ hạng của Viettel đứng ở vị trí 94. Chính vì vậy, trong danh sách TOP 10 mạng di động có thương hiệu vượt trên cả trọng lượng”, Viettel đứng hạng 7.
Ngày 1/6 vừa qua, Tổng Công ty Viễn thông Quân đội (Viettel) đã tổ chức lễ kỷ niệm 20 năm thành lập. Năm 2009, Viettel dự kiến sẽ đạt mức tăng trưởng 80% so với năm 2008. Mục tiêu đến năm 2015 Viettel phấn đấu đạt doanh thu từ 15 - 17 tỷ USD, trở thành 1 trong 20 doanh nghiệp viễn thông lớn nhất thế giới.
Nhân kỷ niệm 20 năm thành lập, Viettel cũng được trao tặng Huân chương Độc lập hạng Ba. Bên cạnh đó, Tổng Giám đốc Viettel, Thiếu tướng Hoàng Anh Xuân, cũng được trao tặng danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ 1999–2009; các Phó tổng giám đốc, gồm Thiếu tướng Dương Văn Tính, Đại tá Nguyễn Mạnh Hùng, Đại tá Lê Đăng Dũng và nguyên Phó Tổng giám đốc - Đại tá Tống Thành Đại - được trao tặng Huân chương Lao động hạng Ba.
Thay lời kết
Với triết lý thuần túy phương Đông “thiên - địa - nhân” hài hòa, những người đã xây dựng nên danh tiếng của Viettel luôn dốc bầu chia sẻ một cách chân tình về những khó khăn cũng như kinh nghiệm từ quá trình xây dựng, ổn định và phát triển thương hiệu của mình. Điều này thể hiện cả ở logo lẫn cách quản lý trân trọng con người và trong điều hành kinh doanh.
Tôi không biết chắc vị doanh nhân trẻ nọ có học được đầy đủ các kinh nghiệm của Viettel chỉ qua buổi nói chuyện đó không. Nhưng, tôi chắc rằng rất nhiều người dù không tham dự hội thảo, đều nhìn Viettel như một “người khổng lồ” về viễn thông ở Việt Nam và khâm phục quyết tâm cũng như tầm nhìn và năng lực của những con người năng động, sáng tạo, luôn muốn vươn xa ra thế giới.
Với thương hiệu Viettel, họ đã đặt mình trong thách thức để phát triển, đồng thời ghi tên Việt Nam với thứ hạng cao trên bản đồ viễn thông thế giới.
(Thế giới & Việt Nam)